Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

21 GIÓ BỐN PHƯƠNG - ĐẠO UYỂN ĐÔNG 2018


Gió muốn thổi đâu thì thổi. GIOAN 3:8

@ Hiền huynh Phan Thành Lợi (Bến Tre). Điện thư ngày 26-7-2018:
Vào trang nhà của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,([1]) tôi tình cờ đọc một bài huynh Huệ Khải viết về quyển Như Thị, ký tên Nghê Dũ Lan. Có chi tiết tôi thấy không thông, nên xin hỏi lại người viết. Có hai đoạn Nghê Dũ Lan viết như sau (chữ in đậm là tôi lưu ý):
 “Hai nghìn mấy trăm năm trước Lã Thị Xuân Thu đánh rơi bốn chữ Khắc chu cầu kiếm và nó trôi, trôi mãi vào thiên cổ nhân gian. (...) Biết như thế, ắt Hàn sướng lắm, (...).
Nhưng thêm bảy trăm năm nữa thì Hàn đành ngậm ngùi chào thua rồi. (...) Thích Ca Mầu Ni hỏi nhỏ họ : Ư ý vân hà? Ý ông thế nào? cúi đầu, thưa khẽ: Mô Phật, thiện tai! Thiện tai!
Tôi hiểu hai chữ (in đậm) tức là Lã Thị Xuân Thu. Vậy thì hai chữ Hàn (in đậm) là ai vậy, thưa hiền huynh?

Image result for NHƯ THỊ

Huệ Khải: Chào hiền huynh, lẽ ra tệ đệ đã trả lời thư hiền huynh trong Đạo Uyển Thu 2018, nhưng do sơ sót về... kỹ thuật (cười...) nên phần trả lời lại “lọt” qua tập Đông 2018 này.
Thưa hiền huynh, hai đoạn dài huynh trích trong thư vốn ở trong một bài viết cũ của tệ đệ. Số là bác sĩ Đỗ hơn mười năm trước có in quyển Như Thị (Nxb Văn Nghệ, tháng 1-2007), và nhân đó tệ đệ viết bài giới thiệu trên tuần san SGGP Thứ Bảy. Điều này tệ đệ có nói trong bài viết ấy như sau:
Qua tuổi sáu lăm, ông Đỗ đánh dấu một năm nghỉ hưu bằng quyển sách vuông vuông Như Thị. Sách chưa phát ra, ông ưu ái lấy “nóng” cho tôi một cuốn, bảo hãy đọc chơi. Đọc sớm trước khi sách bày tràn kệ ngoài thị trường âu cũng là cái thú. Nhưng mới đọc đoạn mở đầu tôi bèn dừng lại, như vừa nhấp thử một hớp rượu ngon thì ngưng chén, để có cơ hội lắng nghe cái men thơm ngấm từ từ vào thể phách.
Thật vậy, đọc hai câu hỏi ông viết liền nhau: Dòng sông có còn níu mãi bờ sông? Thả một hòn sỏi đánh dấu chỗ thuyền trôi? – thì không dám đọc thêm nữa. E “phai” mất đi cái men say lâng lâng đang thọ hưởng. Cả một bài thơ Đường có khi đánh đắm hồn mình chỉ tại bảy chữ một câu. Cũng như thế, hơn hai trăm trang sách mà mới vô đầu đã “trầm trọng” ở hai câu mười bảy chữ há đã là quá đáng! ([2])
Thưa hiền huynh, viết như đoạn trên là để ngầm giải thích vì sao cả một tập sách dày 214 trang mà tệ đệ chỉ “động thủ” một chút xíu nơi đầu sách.
Bản thảo vừa viết xong, đang khoái chí, tệ đệ bèn nhấp chuột, “meo” ngay cho bác sĩ Đỗ xem chơi. Viết bản thảo lúc đó, tệ đệ nhớ mài mại tích khắc chu cầu kiếm liên quan tới Hàn Phi Tử, nên viết nhầm. Hai chữ Hàn mà huynh in đậm trong thư chính là do đệ nhớ lầm.
May sao, trước khi gởi tới tuần san SGGP Thứ Bảy, đọc kỹ lại và kịp phát hiện ra, tệ đệ bèn sửa thành , tức Lã Bất Vi. Hiền huynh vào SGGP online thì thấy bản đã sửa như sau (trích):
Hai nghìn mấy trăm năm trước, họ đánh rơi bốn chữ Khắc chu cầu kiếm và nó trôi, trôi mãi vào thiên cổ nhân gian. Khắc chu cầu kiếm. Vạch thuyền tìm gươm. Thế đấy, bốn chữ nhẹ hều, có gì trầm trọng mà cớ sao suốt từ Chiến Quốc còn chưa lắng chìm, còn bập bềnh xuôi dòng trường giang, tràn sang đại hải, để từ Trung Nguyên phiêu dạt xuống phương Nam, rồi tấp vào bài kệ đời Trần của Trúc Lâm sơ tổ: Hữu cú vô cú, Phi hữu phi vô, Khắc chu cầu kiếm… Câu có câu không, Chẳng có chẳng không, Vạch thuyền tìm gươm… Biết như thế, ắt sướng lắm, đâu dè sau một nghìn năm trăm năm vẫn còn giăng tay được với ông Thiền tổ trời Nam.
Nhưng thêm bảy trăm năm nữa thì đành ngậm ngùi chào thua rồi. Không chào thua sao được khi Đỗ nhẹ nhàng “Thả một hòn sỏi đánh dấu chỗ thuyền trôi”! Hỡi ôi, lại một câu tuyệt cú! Thả một hòn sỏi đánh dấu chỗ thuyền trôi. Thích Ca Mầu Ni hỏi nhỏ họ : Ư ý vân hà? Ý ông thế nào? cúi đầu, thưa khẽ: Mô Phật, thiện tai! Thiện tai!
Phải. Cái sát phạt máu me và xương thịt tan tành thời Chiến Quốc khiến cho đành nhắc tới kiếm, tới gươm. Khiến cho con thuyền của không là thuyền thơ trăng gió.([3])
Cuối bài báo, tệ đệ có chú thích về họ Lã như sau:
Cuối thời Chiến Quốc, Lã Bất Vi (? - 235 trước Công Nguyên) chủ biên bộ sách “Lã Thị Xuân Thu” tập hợp các học thuyết thời Tiên Tần (từ thế kỷ 3 TCN trở về trước), trong đó có tích “Khắc chu cầu kiếm” như sau: Một người nước Sở đang qua sông vô ý đánh rơi thanh gươm xuống nước. Ông ta liền khắc dấu vào mạn thuyền và nói: “Đây là chỗ gươm rơi xuống nước”. Khi thuyền dừng lại, ông ta cứ noi theo dấu khắc trên mạn thuyền mà lặn xuống nước mò gươm. Nhưng thuyền đã đi quá xa chỗ đánh rơi gươm! (4)
Vài năm trước, khi biết bản thảo ban đầu (với sự nhầm lẫn) được dẫn lại nơi trang nhà của bác sĩ Đỗ, tệ đệ đã “meo” cho bác sĩ để nhờ sửa lại cho đúng. Nhưng có lẽ người sửa còn sót nên đã khiến hiền huynh có dịp gởi thư trao đổi với tệ đệ. Hoan hỷ thay! Xin cảm ơn hiền huynh quan tâm và cầu chúc hiền huynh cùng bửu quyến hằng an lạc.
*
@ Hiền huynh Dương Như Quảng (Suối Nghệ, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu). Điện thư ngày 06-8-2018:
Thánh Truyền Trung Hưng (Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2017), trang 552, có in lời dạy của Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn: Chúng sanh sống trong cõi hữu hình vật chất có sẵn lòng bác ái trắc ẩn, tu ố chí tâm.Xin hỏi: Có phải chí tâm là rất thành khẩn, là thành tâm, như khi nói chí tâm quy mng lễ không? Và tu ố chí tâm nghĩa là gì?


Huệ Khải: Kính thưa hiền huynh, khi nói chí tâm quy mạng lễ thì chí tâm có nghĩa là rất thành khẩn, thành tâm, đúng như hiền huynh hiểu.
Nhưng lời dạy của Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn là tu ố chi tâm. Bản in 2017 đã sai khi thêm dấu sắc thành chí.
Tu ố chi tâm nghĩa là lòng hổ thẹn (the feeling of shame). Tu cùng có nghĩa là xấu hổ, hổ thẹn (ashamed). Bài thánh giáo của Đức Liễu Tâm Chơn Nhơn đã được chú giải và in trong Đại Đạo Văn Uyển, tập Lợi (số 19) năm 2016, tr. 17-20.
Nhân đây xin nói qua về cấu trúc tu ố chi tâm (A chi B) mà chúng ta hay gặp khi học thánh giáo. Cấu trúc này hiểu theo tiếng Việt là A ® B, tức là A bổ nghĩa cho B. Chẳng hạn: thiên địa chi tâm = lòng trời đất / phụ tử chi tình = tình cha con / vũ trụ chi gian = trong khoảng vũ trụ, v.v...
Trong các bài kinh cúng tứ thời, ta gặp: Nhựt, nguyệt, tinh thần chi quân = đấng cai quản mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao / Thánh Thần, Tiên Phật chi chủ = đấng làm chủ (chúa tể) Thánh Thần, Tiên Phật / nhứt khí chi trung = trong một khí / song thủ chi nội = trong hai tay / cửu thập nhị tào chi mê muội = sự mê muội của bọn chín mươi hai [ức nguyên nhân] / Tất Viên, Phương Sóc chi bối = các ngài Tất Viên, Phương Sóc / nhựt nguyệt chi quang = ánh sáng mặt trời, mặt trăng, v.v...
Xưa kia, tại thánh thất Từ Quang (Cẩm Phú, Điện Phong, Điện Bàn, Quảng Nam), Thứ Ba 04-12-1934 (28-10 Giáp Tuất), Đức Nam Cực Tiên Ông giáng cơ dạy:
Nơi đây Thầy mới định từ
Tam Kỳ Phổ Độ khắp chư môn trùng
Vì chúng sanh ít dùng Hán tự
E khó phân khỏi sự lạc lầm
Nay đây truyền tiếng quốc âm
Ai ai cũng hiểu khó lầm khỏi sai.
Chúng ta mừng quá, cứ ngỡ rằng Ơn Trên sẽ không dùng chữ Nho khi dạy đạo nữa. Nhưng thật ra, khi dùng chữ quốc ngữ thì mấy mươi năm qua các Đấng vẫn không bỏ hẳn từ Hán Việt; các cấu trúc ngữ pháp chữ Hán vì thế vẫn có trong thánh giáo, thậm chí không ít thi bài toàn là từ Hán Việt.
Đọc thánh giáo tiếng Việt không phải lúc nào cũng hiểu dễ dàng, huống chi là từ Hán Việt, cấu trúc ngữ pháp chữ Hán. phần đông đạo hữu vì không hiểu đúng, tự ý sửa chữa, rồi sao chép hoặc in thánh giáo sai sót.
Không riêng từ Hán Việt, ngay cả từ thuần Việt (quốc ngữ) bà con đạo hữu chúng ta viết sai chánh tả chẳng ít. Ngày nay thử đọc những gì bà con tải lên Internet, thấy mà thương!
Chính Đức Tổng Lý Trần Hưng Đạo cũng “ngán” cho cái tật viết sai tiếng Việt của bổn đạo Cao Đài. Thế nên, giáng cơ tại thánh thất Từ Vân (Phú Nhuận), Thứ Bảy 05-11-1955 (21-9 Ất Mùi), Đức Tổng Lý Vô Vi của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài đã dặn dò tiền bối Thanh Long Lương Vĩnh Thuật (1918-1982) về việc gắn các câu chữ cho ngôi Trung Hưng Bửu Tòa tại Đà Nẵng. Đức Thánh Trần chẳng những không cho dùng chữ Nho (Hán tự) mà còn nhấn mạnh rằng “trong và ngoài hoàn toàn dùng chữ Việt, chính tả cho đúng”.
Mỗi lần nhớ tới lời Đức Thánh Trần Hưng Đạo bảo chính tả cho đúng”, tôi lại ngậm ngùi, vừa thương ngài, vừa thương kinh sách Đạo Thầy trải qua gần trăm năm vẫn chưa được con Thầy gắng sức thể hiện chữ nghĩa cho đúng đắn.
*


@ Nguyên Chánh Trị Sự Lê Thị Ánh Tuyết (xã đạo Tam Kỳ, Trung Mỹ, Quảng Nam). Điện thư ngày 10-8-2018:
Chào đạo huynh Huệ Khải. Chủ Nhật vừa rồi tại thánh thất tệ muội ở Hoa Kỳ (thánh thất Cao Đài Houston / Houston Cao Đai Temple, Texas) thảo luận tìm hiểu về KINH CỨU KHỔ. Có hai vấn đề thắc mắc mà tất cả đạo tràng chưa tìm được giải đáp, nên hôm nay mạo muội nhờ đạo huynh giải thích.
1. Tại sao bài KINH CỨU KHỔ trong sách đạo huynh soạn ([4]) và một số nơi khác (như Kinh Tận Độ của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài) bắt đầu là câu “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát”; nhưng Cao Đài Tây Ninh và một số nơi khác lại là “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát”. Tại sao "Linh Cảm" lại rút gọn là "Linh"?
2. Trong Kinh Tận Độ (bản in 1995, tr. 145), câu niệm cuối bài KINH CỨU KHỔ là "Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát". Trong Kinh Thế Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh (bản in 1992, tr. 108) và trong sách của đạo huynh (đã dẫn) lại là "Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát."
3. Houston Cao Đài Temple là một thánh thất quy tụ tín hữu thuộc các Hội Thánh Cao Đài khác nhau (Tây Ninh, Truyền Giáo, v.v...), cho nên khi hội học, gặp phải một vấn đề gì thì đem ra thảo luận rồi tìm ý kiến thống nhất tối ưu. Giáo lý cao sâu, có rất nhiều điều toàn đạo hữu tại thánh thất chưa thông hiểu được. Nếu đạo huynh cho phép, trong thời gian tới, tệ muội sẽ gởi câu hỏi để nhờ đạo huynh cho ý kiến. Rất mong được đạo huynh giải thích tường tận, để tệ muội chia sẻ cùng đạo hữu tại thánh thất Houston. Vô cùng cám ơn đạo huynh. Kính mến.
Huệ Khải: Kính thưa hiền tỷ, tôi vui lắm khi nhận được thư hiền tỷ. Một tái ngộ bất ngờ! Mới đó mà đã tám năm. Tôi vẫn nhớ dịp ra Tam Kỳ (Quảng Nam) lần thứ nhất vào trung tuần tháng 7 Canh Dần (2010) để dự đại lễ kỷ niệm 75 năm đưa đạo Cao Đài về Quảng Nam (1935-2010) và kỷ niệm 40 năm hình thành Thánh Đường Quảng Nam (1970-2010). Trong chương trình kỷ niệm có buổi hội ngộ đầu tiên giới thiệu kinh sách Chương Trình Chung Tay Ấn Tống với bổn đạo miền Trung. Buổi giới thiệu chiều hôm ấy đã thành công mỹ mãn, trong đó có công sức của hiền tỷ khi đảm nhiệm làm người dẫn chương trình rất duyên dáng. Tôi quay sang hỏi vị chức sắc Cơ Quan Phổ Tế ngồi cạnh, và được biết hiền tỷ là cô giáo dạy tiếng Anh.
Vừa rồi ấn tống quyển Sự Nghiệp Trung Hưng của Thượng Giáo Sư Phạm Văn Liêm (Nxb Hồng Đức 2018), tôi đã chuyển vào đó số tiền công quả của hiền tỷ với lòng thành hồi hướng giác linh song thân và cha chồng hiền tỷ. Nhân đây, Chương Trình Chung Tay Ấn Tống xin thắp nén tâm hương, cầu nguyện giác linh thân phụ hiền tỷ (Giáo Hữu Lê Minh Đức: 1929-2018) sớm được thọ hồng ân Thầy Mẹ nơi cõi thiêng liêng hằng sống.
Về ba điểm hiền tỷ nêu ra, tôi tuần tự trình bày như sau:
1. Tại sao "Linh Cảm" lại rút gọn là "Linh"?
Câu niệm “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát” rất phổ biến xưa nay trong nhà Phật. Ai tụng Bạch Y Thần Chú cũng đều niệm như thế. Tôi vừa thử đưa câu niệm này (viết chữ Nho) vào Google thì trong vòng 0,24 giây có được khoảng 3.740 kết quả. Nhưng bớt chữ Cảm đi thì trong 0,28 giây chỉ có đúng 5 kết quả.
Như vậy, tôi nghĩ có lẽ do sao chép bị sót chữ mà Linh Cảm trở thành Linh, và có thể xưa kia các tiền bối ở Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh đã sử dụng một bản in sót chữ chăng?
Theo tôi, căn cứ vào tính phổ biến của Linh Cảm so với Linh, ta nên niệm theo truyền thống: “Nam mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát”.
2. Về câu niệm cuối bài Kinh Cứu Khổ.
Trong sách đã dẫn của tôi, câu niệm hồng danh Thầy ở cuối bài Kinh Cứu Khổ là do tôi căn cứ theo Kinh Thế Đạo của Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh. Thỉnh thoảng đi cúng thời ở thánh thất Từ Vân (Phú Nhuận), tôi nghe bổn đạo niệm khác. Xem lại Kinh Tận Độ thì thấy câu niệm là “Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát”.
Tôi không biết ở các nơi khác còn có cách niệm nào nữa hơn không. Lý do phát sinh sai biệt thì tôi chưa rõ. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng nếu ở thánh thất hiền tỷ đang có hai cách niệm khác nhau mà chưa thống nhất được ý kiến, thì hãy thử dung hòa bằng cách trước niệm hồng danh Thầy, sau niệm tiếp hồng danh Đức Bồ Tát. Cốt sao chúng ta giữ được tình thân ái, hòa khí giữa đồng đạo. Bằng không, chúng ta đọc Kinh Cứu Khổ mà lại bất hòa chỉ vì bất đồng ở câu niệm cuối bài kinh thì biết đâu Đức Bồ Tát cũng phải than: Khổ quá! Cứu khổ cho chư hiền thiệt là khó!”
3. Rất mong được đạo huynh giải thích tường tận, để tệ muội chia sẻ cùng đạo hữu tại thánh thất Houston.
Thưa hiền tỷ, đạo học thậm thâm mà tôi chỉ mới mon men, rón rén bước vào nhà Thầy. Những dịp đạo hữu gần xa nêu câu hỏi chính là các vị làm giáo viên ra đề kiểm tra cho tôi được dịp làm học trò trả bài; nhờ vậy tôi được ôn bài, được học hỏi thêm. Cho nên, tôi biết ơn tất cả quý đạo hữu ấy.
Từ nay, đã có địa chỉ e-mail của hiền tỷ, mỗi khi tải kinh sách ấn tống lên các blogs của Chương Trình Chung Tay Ấn Tống, tôi sẽ chuyển đường links về hiền tỷ. Như vậy hiền tỷ có thể tham khảo và chia sẻ với các đạo hữu quan tâm; chúng ta giải quyết được trở ngại không gian ngăn cách khiến bất tiện gởi sách in qua Houston biếu thánh thất và quý đạo hữu.
Cầu chúc hiền tỷ và bửu quyến hằng an lạc trong hồng ân Thầy Mẹ.
*
Related image
MẠNH TỬ
@ Hiền hữu Nguyễn Văn Hương (Long Định, Long Kiến, Chợ Mới, An Giang). Điện thư ngày 11-8-2018:
Tôi nghe bá tánh bảo rằng Đức Mạnh Tử khuyên: Đọc sách mà tin hết vào sách thì thà không có sách. (Tận tín thư bất như vô thư.) Xin hỏi: Thật sự Đức Mạnh Tử có khuyên như vậy không?
Huệ Khải: Chào hiền hữu. Ngày 11-8-2018, vừa đọc thư hiền hữu xong, tôi thử dùng Google tìm kiếm câu hiền hữu hỏi, và lập tức thấy trong vòng 0,52 giây có liền 2.890 kết quả. Sợ chưa? Người Việt chúng ta dễ dãi sao chép lẫn nhau không cần kiểm chứng và lan truyền một câu văn không chính xác rồi gán ngay cho Đức Mạnh Tử là tác giả.
Sách Mạnh Tử gồm bảy thiên (cũng như chương / chapter), chia làm hai quyển gọi là Thượng, Hạ. Quyển Hạ gồm bốn thiên. Thiên chót gọi là Tận Tâm và chia làm hai phần, gọi là Tận Tâm Thượng, Tận Tâm Hạ. Theo bản Mạnh Tử của James Legge (1815-1897), trong Tận Tâm Hạ, ở đoạn đánh số 49 mở đầu như sau:
: «» , «» . (Mạnh Tử viết: Tận tín «THƯ», tắc bất như vô «THƯ».)
1. Trước hết, ta thấy, khi nói Tận tín thư bất như vô thư, người Việt đã bỏ sót chữ tắc (liên từ / conjunction, có nghĩa: thì, thì là). Thí dụ: Bất tiến tắc thối 退 (Không tiến là lùi). Luận Ngữ, thiên Học Nhi, có câu này: Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ. , . (Con em ở trong nhà thì hiếu thảo [với cha mẹ], ra ngoài thì kính nhường [người lớn]).

Image result for "tHƯ KINH"
Kinh Thư
2. Lại thấy, chữ THƯ được James Legge đặt trong dấu ngoặc kép. Thì ra nó không có nghĩa chung chung là sách vở (books), mà là nhan đề một pho kinh trong Ngũ Kinh (Dịch, Thư, Thi, Lễ, Xuân Thu). Vâng, THƯ trong câu chữ Nho dẫn trên là Kinh Thư, còn gọi là THƯỢNG THƯ , ghi chép các sự kiện lịch sử Trung Quốc thời cổ (vua Nghiêu, vua Thuấn; ba nhà Hạ, Thương, Tây Chu).
James Legge dịch câu chữ Nho trên đây như sau:
Mencius said, It would be better to be without the Book of History than to give entire credit to it.
Nghĩa là: Mạnh Tử nói, “Thà không có (Kinh) Thư còn hơn là tin hết vào (Kinh) Thư.”
3. Tại sao Đức Mạnh Tử không cả tin vào Kinh Thư?
Kinh Thư có tới hai mươi lăm thiên ngụy tác (apocrypha), trong đó có thiên Vũ Thành 武成 (Thành Tựu Chiến Sự / Successful Completion of the War). Thế nên, sau khi nói “tắc bất như vô Thư”, Đức Mạnh Tử lập tức giải thích lý do ngài chỉ tin (Kinh) Thư một phần nào:
吾 於 «武成» , 取 二 三 策 而 已 矣 . (Ngô ư «Vũ Thành», thủ nhị tam sách nhi dĩ hỹ.)
James Legge dịch câu chữ Nho trên đây như sau:
In the “Completion of the War,” I select two or three passages only, which I believe.
Nghĩa là: Trong [thiên] Vũ Thành, ta chỉ chọn lấy hai hay ba đoạn mà ta tin tưởng.
Trở lại với khoảng 2.890 trường hợp người Việt diễn dịch và trích dẫn không đúng câu nói của Đức Mạnh Tử, phải chăng đây là cái thói quen dễ dãi sao chép lẫn nhau bất cần khảo chứng của người Việt?
Cũng bởi thói quen này, phải chăng xưa nay người Việt chúng ta vô tình đã “vu khống” Đức Mạnh Tử khi cứ bảo rằng ngài từng nói câu “Tận tín thư bất như vô thư” theo nghĩa Đọc sách mà tin hết vào sách thì thà không có sách.”?
Thưa hiền hữu,
Nhân trả lời câu hỏi của hiền hữu, nói tới thói quen dễ dãi sao chép lẫn nhau bất cần khảo chứng của người Việt, xin nhắc lại rằng mục Gió Bốn Phương trên Đạo Uyển Thu 2018 (tr. 138-140), hiền hữu Lê Anh Minh cho biết câu đối Thời lai phong tống Đằng Vương Các / Vận khứ lôi oanh Tiến Phúc Bi” vốn của người khuyết danh, không phải là hai câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống; thế nhưng xưa nay người Việt vẫn cứ đề quyết là thơ của Tô Đông Pha.
Từ khi chủ biên Chương Trình Chung Tay Ấn Tống Kinh Sách Đại Đạo, thỉnh thoảng tôi nhận được một số bản thảo của quý đạo hữu gần xa gởi về. Quý vị ấy hay trích thánh giáo. Tôi kiểm tra lại thì thấy hoặc là sai hồng danh Đấng giáng cơ, hoặc sai sót chữ nghĩa. Thậm chí, có vị trích dẫn bài thơ bốn câu mà hai câu trên vốn của Đức Lý, hai câu dưới vốn của Đức Mẹ, thế nhưng trong bản thảo lại ghi là “Đức Chí Tôn dạy”. Tôi đoán rằng khi trích dẫn, vị ấy chỉ chép theo trí nhớ chứ không chịu khó mở kinh sách ra dò lại cẩn thận.
Hiền hữu mến, ngoài câu hỏi thú vị trên đây, trong thư khá dài hiền hữu còn cho biết từng có ý muốn gởi bài về Đạo Uyển, nhưng lại ngại ngần, vì lẽ “cảm thấy Ban Ấn Tống khó tánh quá xá!” Vâng, chúng tôi tuy ráng kỹ lưỡng mà vẫn cứ không sạch hết lỗi lầm mỗi khi in sách. Nếu không “khó tánh quá xá” như hiền hữu bảo thì sách ấn tống của Chương Trình chúng mình in ra ắt sẽ tệ hại lắm. Nếu trót thế, chúng tôi tránh sao khỏi đắc tội vì thiếu trách nhiệm đối với công quả của quý ân nhân thương mến, tin cậy gởi gắm.
Vậy, rất mong hiền hữu sẽ gởi bài góp mặt với Đạo Uyển. Lỡ thấy bài không đăng, thì hãy vui vẻ tự nhủ: Mình biết trước rồi mà. Mình nói có sai đâu hén! Sau đó, hiền hữu vẫn hăng hái gởi thêm bài khác, rồi lại thêm bài khác nữa. Cười...
Xin cảm ơn hiền hữu nhiều năm qua vẫn luôn là bạn đọc trung thành của Chương Trình Chung Tay Ấn Tống. Chúc hiền hữu an lạc trong hồng ân Thầy Mẹ. Quý mến.
*
@ Hiền muội Phương Hà (Mang Thít, Vĩnh Long). Điện thư ngày 12-8-2018:
Đọc Đại Đạo Văn UyểnĐạo Uyển, em thấy hay nhắc tới James Legge. Xin Ban Ấn Tống cho em biết về đạo nghiệp của vị này.
Lê Anh Minh: James Legge có phương danh chữ Nho là Lý Nhã Các 理 雅 閣. Ông là giáo sĩ của Hội Truyền Giáo London (the London Missionary Society), và là một nhà Hán học cự phách. Ông sinh ngày 20-12-1815 tại Huntly, Aberdeenshire, Tô Cách Lan (Scotland), và tạ thế ngày 29-11-1897 tại Oxford, nước Anh.


Ngày 10-01-1840, ông đến Malacca (ở Mã Lai) làm viện trưởng của Anh Hoa Học Viện 英 華 學 院 (Ying Wa College / the Anglo-Chinese College). Năm 1843, ông từ Malacca đến Hương Cảng (Hong Kong) và cư trú ở đây suốt ba mươi năm. Vì vậy, ông đồng thời là đại diện của Hội Truyền Giáo London tại Malacca và Hương Cảng (1840-1873).
Từ năm 1876 cho đến lúc mất, ông dạy chữ Hán tại Viện Đại Học Oxford, nước Anh. Ông phiên dịch hầu hết những kinh điển trứ danh của đạo Nho sang tiếng Anh (như Nho Giáo Thập Tam Kinh) và một số kinh điển đạo Lão.
Những năm 1879-1891 ông cộng tác với triết gia Đức kiêm nhà Đông phương học Max Müller (1823-1900) cùng nhiều học giả khác hợp soạn bộ sách kỳ vĩ nhan đề Sacred Books of the East (Kinh điển phương Đông, 50 quyển).
Một số tác phẩm của James Legge:
- The Life and Teaching of Confucius with Explanatory Notes (Cuộc đời và giáo huấn của Khổng Tử, chú giải Luận Ngữ), London, 1861.
- The Religions of China (Các tôn giáo của Trung Quốc), London, 1880.
- The Shu-king (Kinh Thư), Oxford, 1879.
- The Yih-king (Kinh Dịch), Oxford, 1882.
- The Texts of Taoism: Tao-teh-king (Đạo Lão kinh điển: Đạo Đức Kinh), Oxford, 1891.
- The Writings of Kwang-zze in the Texts of Taoism (Trang Tử), Oxford, 1891.
- The Life and Works of Mencius with Essays and Notes (Mạnh Tử, cuộc đời và tác phẩm có chú giải), London, 1875.
- The Thai-shang Tractate of Actions and Their Retributions (Thái Thượng Cảm Ứng Thiên), Oxford, 1891, v.v...


Nên biết thêm rằng năm 1815 Hội Truyền Giáo London thành lập một nguyệt san bằng Hán ngữ tại Malacca. Một người tiên phong trong lĩnh vực báo chí ở đấy là Vương Thao 王 韜 (1828-1897), nguyên là văn nhân, làm chủ bút tiếng Hán suốt những năm 1850. Vì bị nghi ngờ có liên lạc với loạn Thái Bình nên Vương Thao bỏ chạy sang Hương Cảng dưới sự che chở của người Anh. Mười năm sau đó ông giúp James Legge hoàn thiện công trình phiên dịch Ngũ Kinh sang tiếng Anh (lúc đó James Legge đã dịch xong Tứ Thư rồi). Sau đó James Legge và Vương Thao đã cư trú ở Scotland hai năm. Nhờ tiếp xúc rất nhiều với phương Tây và thông thạo ngành xuất bản, Vương Thao trở thành nhà báo độc lập trong những năm 1870 và tự thành lập một tờ nhật báo tại Hương Cảng. Như vậy, James Legge có những công trình phiên dịch kinh điển để đời cũng nhờ sự phụ tá của Vương Thao.
*
@ Cô giáo Têrêsa Hài Đồng Giêsu Nguyễn Thị Thanh Thủy, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hạt Xóm Mới, Gò Vấp. Điện thư ngày 17-8-2018:
Chào bác Huệ Khải, bác có khỏe không ạ? Con vừa xem "Tản Mạn Chuyện Đạo" của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa, sao con thấy bóng dáng mình trong đó. Có lúc mình bực bội gì đó làm buồn lòng người khác lại thấy xấu hổ... Con kính chúc bác luôn vui mỗi ngày. Con, Thanh Thủy.
Huệ Khải: Cô Thanh Thủy quý mến. Cô sắp trở lại bục giảng rồi nhỉ? Đã khá lâu tôi không viết thư thăm cô và gia đình. Hôm qua, sau khi đưa Đạo Uyển Thu 2018 đi nhà in, tôi liền đăng các bài vào blog, rồi gởi đường dẫn tới một số đạo hữu. Lúc ấy bất chợt nghĩ tới cô, nên gởi luôn. Vậy nên cô là một trong số chừng mươi vị đạo hữu được xem Đạo Uyển Thu 2018 rất sớm.
Bác Nguyễn Văn Nghĩa trong tuổi thất tuần, đang tu hành tại gia ở Tây Ninh. Nếu biết rằng Con vừa xem ‘Tản Mạn Chuyện Đạo’ của tác giả Nguyễn Văn Nghĩa, sao con thấy bóng dáng mình trong đó”, ắt bác ấy cũng vui vui và sẽ viết thêm bài mới để tiếp tục gởi tới Đạo Uyển.
Tháng 8 này các nơi, đặc biệt là trung tâm Đức Mẹ La Vang, đều dâng thánh lễ, dâng hoa, và hướng vọng về Đức Mẹ Maria. Tôi cầu nguyện Đức Mẹ ban ơn lành đến cô giáo và gia đình, phù trợ mọi đạo sự cô đang đảm đương nhiều năm nay tại giáo xứ.
*
) Hiền huynh Long, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Điện thoại ngày 21-8-2018:
Trong Kinh Sám Hối có câu: "Nói năng minh chánh, lời ra phải nhìn.” Nhưng đi cúng tôi thấy có nhiều nơi đọc: "Nói năng minh chánh, lời ra phải gìn. Vậy, chữ nào mới đúng?
Huệ Khải: Chào hiền huynh, theo bản gốc từ Minh Lý Đạo (là nơi tiếp nhận Kinh Sám Hối), thì câu kinh đúng chính là: "Nói năng minh chánh, lời ra phải nhìn.
Trong Tìm Hiểu Kinh Cúng Tứ Thời (Thanh Căn và Huệ Khải soạn chung, Nxb Tôn Giáo, 2011), tr. 56, chú thích 63, tôi viết: Lời ra phải nhìn: Nhìn nhận, không chối bỏ lời đã nói ra (to keep one’s word, to be true to one’s word).


Nay tôi bổ sung như sau: Chữ nhìn trong câu kinh dẫn trên là từ Việt cổ.
Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (quyển II, 1896, tr. 131, cột 2), Paulus Của giảng Nhìn có nghĩa: "(...) nhận là của mình.”
Trong Chuyện Giải Buồn (quyển hai, 1886), chuyện kể số 84 (nhan đề: Tra án), Paulus Của viết: "Tên Châu (...) nói với vợ họ Cổ rằng: ‘(...) thôi trước nói làm sao, bây giờ phải nhìn lời.’ ” Vậy, nhìn lời tức là giữ lời hứa.
Khi ban truyền Kinh Sám Hối, ngày 22-5-1925 (01-4 nhuần Ất Sửu), Đức Quan Thánh Đế Quân dạy: "Nói năng minh chánh, lời ra phải nhìn, có nghĩa đã nói ra thì phải giữ lời hứa. Tín đồ đọc kinh, sửa lại là "Nói năng minh chánh, lời ra phải gìn, tuy ý nghĩa không sai, nhưng không còn đúng nguyên văn, và lại làm mất đi một từ Việt cổ mà Đức Quan Thánh giúp chúng ta bảo tồn.
*
@ Cháu Trà Thị Biên Đình (Tân Biên, Tây Ninh). Điện thư ngày 06-9-2018:
Theo Đạo Sử Xây Bàn” (quyển I) của Nữ Đầu Sư Hương Hiếu (bản ronéo, trang 24), ngày 13-11-1925 (27-9 Ất Sửu), Đức AĂÂ giải Nghĩa Niếp tử” như sau: Niếp là rương đựng sách. / Tử là thầy Ðức Khổng Tử. / Niếp tử: là rương đựng sách của Ðức Khổng Tử (...)” Cháu thấy chỗ này khó hiểu. Thử tra từ điển Hán Việt thì không thấy chữ Niếp nào hết. Xin bác Huệ Khải giải thích giúp cháu. Cháu cảm ơn bác.
Huệ Khải: Chào cháu Biên Đình. Nhìn thấy tên cháu, tôi không khỏi mỉm cười. Nhà cháu ở huyện Tân Biên, sát biên giới Campuchia, nên cha cháu đặt tên cháu là Biên Đình 邊庭 rất hay; và nó còn cho thấy cha cháu thích Truyện Kiều, ở mấy câu Nguyễn Du tả Từ Hải: Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi / Râu hùm, cằm én, mày ngài / Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao / Đường đường một đấng anh hào / Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Trở lại câu cháu hỏi; nói khó hiểu là đúng rồi, vì hai lẽ.
Một, có thể là vị đạo hữu làm công quả đánh máy giúp tiền khai Hương Hiếu gõ sót chữ chăng? Trong bản ronéo tôi đang có, cũng như các bản điện tử trên Internet, đều viết giống như cháu trích dẫn: “Tử là thầy Ðức Khổng Tử.”
Theo tôi, câu văn sẽ rõ nghĩa ngay nếu thêm dấu phẩy và viết: Tử là thầy, ám chỉ Đức Khổng Tử. Chúng ta biết, trong sách Luận Ngữ, thường chép Tử viết 子曰, nghĩa là Đức Khổng nói. Vậy, phải viết hoa chữ Tử (Níp Tử, thay vì Niếp tử; xem tiếp giải thích bên dưới).
Hai là chữ Niếp. Người đánh máy đã gõ sai chánh tả. Đúng ra là Níp. Đây là một từ Việt cổ, có nghĩa là cái rương (tráp, hòm) bằng tre, thường dùng đựng sách vở (mà đựng đồ vật khác cũng đặng). Như vậy, Đức AĂÂ giảng Níp là rương đựng sách” thì đúng quá rồi.


Chữ Nho gọi nípcấp , ghép chữ cập với bộ trúc nằm phía trên (vì níp làm bằng tre). Cấp dịch ra tiếng Anh là ”trunks (for books)” (những cái rương đựng sách);([5]) hay là ”square bamboo container for food or clothing” (cái vật chứa vuông vắn đan bằng tre dùng đựng thức ăn hay cất quần áo).([6]) Bởi vậy có thành ngữ phụ cấp tùng sư 負笥從師 (mang níp theo thầy), ý nói dốc lòng theo thầy học hành; hay phụ cấp viễn du 負笈遠遊 (mang níp đi chơi xa).
Nhắc lại, níp là từ Việt cổ. Ngày xưa, các cụ soạn Tam Thiên Tự dạy chữ Nho cho người Việt, có ba lần dùng chữ níp để giảng nghĩa ba chữ Nho khác nhau. Thật vậy:
- Mở Tam Thiên Tự 三千字 (Ba ngàn chữ) do Đoàn Trung Còn in (Sài Gòn: Trí Đức Tòng Thơ, 1959), trang 26, chữ thứ 1719 (xem chữ Nho hàng thứ bảy, từ trái đếm sang chữ thứ bảy), ta thấy chữ mà các cụ đọc là cập, giảng là níp. Nay các từ điển Hán Việt đọc cấp.
- Cũng bản in của Đoàn Trung Còn, trang 25, chữ thứ 1642 (xem chữ Nho hàng thứ tám, từ trái đếm sang chữ thứ hai), ta thấy chữ mà các cụ đọc là hiệp, giảng là níp. Nay các từ điển Hán Việt đọc khiếp. Đằng khiếp 籐篋 là cái níp đan bằng mây, thư khiếp 書篋 là níp đựng sách. Chữ khiếp cũng viết với bộ trúc phía trên (vì khiếp làm bằng tre).
- Vẫn bản in của Đoàn Trung Còn, trang 13, chữ thứ 687 (xem chữ Nho hàng thứ tám, từ trái đếm sang chữ thứ bảy), ta thấy chữ mà các cụ đọc là , giảng là níp. Nay các từ điển Hán Việt đọc tứ, tức là cái sọt tre vuông vức; tiếng Anh dịch là ”square bamboo container for food or clothing” (cái vật chứa vuông vắn đan bằng tre dùng đựng thức ăn hay cất quần áo).([7]) Chữ tứ cũng viết với bộ trúc phía trên (vì tứ làm bằng tre).
*
) Hiền hữu Nguyễn Trung Tín (thánh thất Trung Dương, Đơn Dương, Lâm Đồng). Tin nhắn ngày 14 và 18-9-2018:
1. Trong Đại Đạo Văn Uyển Tập Lợi 2014, có câu thánh thi của Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn: Hãy đến non Tiên tìm Lão Hủ / Mới tường đáy nước ẩn giao long. Xin hỏi Lão Hủ là vị nào?
2. Trong Đại Đạo Văn Uyển Tập Nguyên 2014, có câu: Giáng linh Hộ Pháp Vi Đà / Chuyển cây ma xử đuổi tà trục tinh. Xin hỏi Vi ĐàDi Đà là một vị hay hai vị?
Huệ Khải: Chào hiền hữu. Xin lần lượt trả lời như sau:
1. Hủ (tính từ) là mục nát. Cái gì tồn tại mãi mãi được gọi là bất hủ 不朽 (immortal). Khi nói về con người thì hủ nghĩa già yếu, suy nhược. Người già cả tự xưng lão hủ 老朽 để ngụ ý mình tuổi già sức yếu; cũng là cách nói khiêm tốn. Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn tự xưng Lão Hủ là theo ý này; chúng ta viết hoa để tỏ ý tôn kính ngài.
2. H Pháp Vi Đà 韋陀 trong Đại Đạo Văn Uyển Tập Nguyên 2014 đã giải thích rồi và kèm theo hình minh họa, nên không nhắc lại nơi đây.
Di Đà là cách nói tắt hồng danh Pht A Di Đà (阿彌陀, Amitābha). Phật tử tu theo pháp môn Tịnh Độ luôn niệm Nam mô A Di Đà Phật để mãn kiếp trần được vãng sanh vào cõi Tịnh Thổ 淨土 (Pure Land) của Đức Phật Di Đà. Bên cạnh là hình vẽ Đức Phật Di Đà theo quan niệm của Phật Giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhism).


Như vậy Hộ Pháp Vi Đà và Phật Di Đà là hai vị khác nhau. Có điều, phần đông đạo hữu miền Nam khi nói Vi Đà đều phát âm giống như Di Đà, không phân biệt Vi Di.
*


([1]) https://www.dohongngoc.com/web/huom-huom/nhu-thi-2/
([2]) http://www.sggp.org.vn/doc-nhu-thi-va-se-chia-nhu-the-102680.html
([3]) (4) Như chú thích (2).
([4]) Huệ Khải, Kinh Cứu Khổ Trong Đạo Cao Đài. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2009, 2010, 2011.
([5]) https://www.yellowbridge.com/chinese/dictionary.php
([6]) https://www.mdbg.net/chinese/dictionary?page=worddict&wdrst=0&wdqb=%E7%AC%A5
([7]) https://www.yellowbridge.com/chinese/dictionary.php